
Rick Moore

Vào năm 1899, cô bé Malaky cùng hai em trai là David và Naif, đi cùng cha mẹ, lên một chuyến tàu hơi nước từ Byblos, Lebanon sang thành phố New York. Khi ấy Malaky 11 tuổi, David 4 tuổi, còn Naif mới tròn 1 tuổi. Toàn bộ tài sản của gia đình đều nằm trong một chiếc rương gỗ.
Khi lên tàu, người thủy thủ phụ trách sổ ghi danh hỏi họ họ gì. Họ trả lời là “Muir”. người thủy thủ không biết viết thế nào, nên đã ghi thành “Moore”.
Giữa hành trình vượt Đại Tây Dương, người cha bị đau tim. Khi đó họ mới đi được nửa chặng đường trong chuyến đi kéo dài tám ngày. Cả gia đình vẫn hy vọng rằng khi tàu đến New York, ông có thể được chữa trị.
Khi con tàu đi ngang Tượng Nữ Thần Tự Do để tiến vào Ellis Island, mọi người bắt đầu reo hò. Nhưng khi tàu vừa cập bến, lúc gia đình chuẩn bị rời tàu, họ đã bị các thủy thủ giữ lại.
Thời đó, Ellis Island có một quy định rất nghiêm ngặt: nếu có người trên tàu bị bệnh, người đó không được phép lên bờ. Các thủy thủ nói rằng người cha phải quay về Lebanon. Người mẹ không thể hiểu được chuyện gì đang xảy ra. Dù chỉ nói được tiếng Anh bập bẹ, bà vẫn biết chắc phải có sự nhầm lẫn. Không lẽ họ lại chia cắt một gia đình như vậy.
Một hành khách khác đến từ Byblos tên là Abraham, nói tiếng Anh tốt hơn và thông thạo tiếng Ả Rập, đã cố gắng đứng ra giải thích giúp. Nhưng các thủy thủ vẫn không lay chuyển. Họ nói rằng cả gia đình có thể chọn ở lại trên tàu hoặc quay về, người bệnh thì tuyệt đối không được xuống. Abraham đề nghị rằng nếu người mẹ đồng ý, ông và vợ có thể chăm sóc các con.
Người mẹ bật khóc, cố gắng hiểu mọi chuyện và nài nỉ các thủy thủ cho chồng mình được xuống tàu. Nhưng tiếng còi tàu đã vang lên. Các thủy thủ hét lên: “Ở lại trên tàu hoặc rời đi ngay bây giờ, người cha sẽ không được xuống.”
Trong một quyết định chớp nhoáng, người mẹ bảo Malaky mang theo chiếc rương đựng toàn bộ tài sản của gia đình và ở lại với gia đình Abraham. Bà nghĩ hai đứa con trai còn quá nhỏ để xa mẹ. Malaky đứng lặng, không tin nổi khi nhìn cha mình đang bệnh và cả gia đình rời đi trên con tàu ấy. Trên đường quay về Lebanon, người cha qua đời.
Abraham không tìm được việc làm ở New York, nên đưa Malaky cùng gia đình mình đến Worcester, Massachusetts, nơi ông tìm được công việc. Malaky cũng đi làm trong một xưởng dệt. Không có cách nào để liên lạc qua lại với Lebanon, nhưng qua những người đi lại, họ biết được tin người cha đã mất.
Sau vài tuần, Malaky hỏi Abraham xin chìa khóa chiếc rương. Ông nói tưởng rằng cô bé đã giữ. Trong lúc hỗn loạn trên tàu hôm đó, người mẹ đã quên đưa chìa khóa. Abraham đề nghị phá khóa, nhưng Malaky không đồng ý. Cô nói: “Con sẽ đợi mẹ về mở.”
Nhiều đêm, Malaky đặt tay lên chiếc rương cũ và cầu nguyện được gặp lại gia đình.
Khoảng hai năm sau, người mẹ đã dành dụm đủ tiền để quay lại Mỹ lần thứ hai. Khi bà đến Worcester cùng hai cậu con trai, đó là một cuộc đoàn tụ mà không gì có thể so sánh.
Tối hôm đó, trước khi đi ngủ, Malaky hỏi mẹ chìa khóa chiếc rương. Người mẹ ngạc nhiên, bà không biết chìa khóa đang ở đâu. Sau ngần ấy thời gian chờ đợi, cuối cùng Abraham vẫn phải phá chiếc rương ra.
Bà cố Malaky của tôi qua đời khi tôi mười hai tuổi, nhưng tôi vẫn còn nhớ bà. Chiếc rương tàu hơi nước cũ vẫn còn đặt trong phòng khách nhà tôi cho đến ngày hôm nay. Dù không ai tìm được chìa khóa của chiếc rương, nhưng họ đã tìm được chìa khóa của hạnh phúc.
Cảm ơn Chúa vì gia đình vẫn còn bên nhau.
Rick Moore
Communications Pastor of Destiny Worship Center.


